T V trực tuyến

7 khách và 0 thành viên

Tham khảo

Tài nguyên dạy học

THÀNH VIÊN VIOLET

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • TIN TỨC

    MÃ MÀU

    Menu chức năng 1

    HONGAN KÍNH CHÚC QUÝ THẦY CÔ VA CÁC BẠN MỘT NĂM MỚI TRÀN NGẬP NIỀM VUI, MAY MẮN VÀ HẠNH PHÚC!
    Gốc > ▲CHIA SẺ KINH NGHIỆM >

    Phân tích tiếng Việt qua phần giới thiệu tốc ký của Võ Đình Tiến

     

    CẤU TẠO - NGÔN NGỮ TIẾNG VIỆT

     

    Phương pháp soạn thảo văn bản bằng tốc ký vi tính trình bày trong cuốn sách này được xây dựng trên cơ sở phân tích cấu tạo và ngôn ngữ tiếng Việt và tính năng Autotext của phần mềm Microsoft - Word.

    Do đó, việc nắm vững cấu tạo và ngôn ngữ tiếng Việt rất cần thiết cho việc nghiên cứu, sử dụng phương pháp soạn thảo văn bản bằng tốc ký vi tính.

    Tuy đề cập đến những vấn đề có liên quan đến ngôn ngữ, nhưng đây không phải là công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học mà chỉ nhằm phục vụ cho nội dung của phương pháp tốc ký vi tính; do đó, có những vấn đề về mặt học thuật không đúng chuẩn mực của bộ môn ngôn ngữ học hiện đại, tác giả mong bạn đọc và các nhà học giả thông cảm và lượng thứ.

    ● Cấu tạo và ngôn ngữ tiếng Việt:

    Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn âm tiết (đơn lập), nghĩa là mỗi từ, khi phát âm ta sẽ phát ra một tiếng; khác với các ngôn ngữ đa âm tiết (tiếng Anh, tiếng Pháp vv...) , có những từ khi phát âm ta phải phát ra nhiều tiếng.

    Các thành tố tạo thành một từ tiếng Việt gồm:

    Phụ âm đầu - nguyên âm - dấu giọng - và phụ âm cuối.

    Ví dụ: từ cán có phụ âm đầu là c, tiếp đến là nguyên âm a, dấu giọng (dấu sắc) và phụ âm cuối là n.

    Để nắm được quy tắc, nội dung của phương pháp soạn thảo văn bản bằng tốc ký vi tính, bạn cần tìm hiểu các thuật ngữ sau đây:

     

    ■ Nguyên âm:

    Nguyên âm là những mẫu tự khi phát âm ta không cần uốn cong lưỡi.

    Trong 24 chữ cái tiếng Việt có 6 nguyên âm gốc là: A, E, I, O, U, Y; ngoài ra còn có các nguyên âm phát sinh, là những nguyên âm gốc có dấu mũ như Â, Ă, Ê, Ô, Ơ, Ư; và các nguyên âm gốc có dấu giọng Á, È, Ỉ, Ỏ, Ụ vv...

    Những nguyên âm gốc có dấu mũ, dấu giọng, hoặc vừa có dấu mũ, vừa có dấu giọng như Ấ, Ắ, Ế, Ồ, Ở, Ứ, Ừ, vv... cũng được coi là nguyên âm. Ta gọi những nguyên âm này là nguyên âm có tầng dấu.

    Trong nguyên âm, cần phân biệt nguyên âm đơn và nguyên âm ghép:

    Nguyên âm đơn là những nguyên âm gốc, có thể có hoặc không có dấu giọng, dấu mũ; hoặc là nguyên âm có tầng dấu.

    Đặc điểm nhận biết nguyên âm đơn là chúng chỉ có một mẫu tự. Ví dụ: a, á, è, ê, ơ, ư, vv...

    Nguyên âm ghép là những nguyên âm có từ hai nguyên âm đơn trở lên đứng kề nhau, bất kể chúng có hay không có tầng dấu. Ví dụ: oe, oa, uôi, eo, vv...

    Việc phân biệt nguyên âm đơn và nguyên âm ghép có ý nghĩa quan trọng trong phương pháp soạn thảo văn bản bằng tốc ký vi tính, vì chúng là dấu hiệu để ta xác định cách gõ mã để truy xuất một từ ghép. Để phân biệt nguyên âm đơn và nguyên âm ghép, đơn giản là xác định chúng có một mẫu tự riêng lẻ hay nhiều mẫu tự là nguyên âm đứng kề nhau. Ví dụ: Trong từ chongchoang, ta thấy từ chong chỉ có một nguyên âm o, đó là nguyên âm đơn; còn trong từ choang, thành phần nguyên âm là oa gồm 2 nguyên âm đứng kề nhau nên đây là nguyên âm ghép.

    Trong ngôn ngữ tiếng Việt có những nguyên âm sau đây:

    Nguyên âm đơn gồm có các mẫu tự: a, e, i, o, u, y và các nguyên âm có tầng dấu phát sinh từ 6 nguyên âm này.

    Nguyên âm ghép gồm các tổ hợp ký tự phát sinh từ các nguyên âm đơn, gồm:

     + Mẫu tự A có       : ai, ao, au, ay, âu, ây.

     + Mẫu tự E có       : eo, êu.

     + Mẫu tự I có         : ia, , iêu, iu.

     + Mẫu tự O có       : oa, , oai, oay, oe, oeo, oi, ôi, ơi.

     + Mẫu tự U có       : ua, , uy, uya, uyâ, uyu, , , uôi, ui, ưa, ưi, ưu, ưo, ươi, ươu.

     + Mẫu tự Y có       : yu.

    Và những nguyên âm ghép nêu trên nhưng có dấu giọng.

    Ghi chú: Mẫu tự Y khi đứng trước nguyên âm là phụ âm, khi đứng sau phụ âm là nguyên âm. Ví dụ: Trong từ yêu, Y là phụ âm (đứng trước nguyên âm ghép UÊ); còn trong từ hay, Y là nguyên âm (đứng sau nguyên âm A, tạo thành nguyên âm ghép ay)

    Phụ âm: Phụ âm là những mẫu tự khi phát âm ta phải uốn cong lưỡi.

    Cũng như nguyên âm, phụ âm cũng được phân thành phụ âm đơn và phụ âm ghép.

     + Phụ âm đơn là những phụ âm chỉ có một ký tự.

    Các phụ âm trong tiếng Việt gồm:

    B, C, D, G, H, K, L, M, N, P, Q, R, S, T, V, X (và Y)

     + Phụ âm ghép là những phụ âm mà trong thành phần cấu tạo của chúng có từ hai mẫu tự trở lên đứng kề nhau.

    Các phụ âm ghép trong tiếng Việt gồm có:

    đ, qu, th, ch, ng, ngh, nh, gh, ph, tr, gi.

    Ghi chú:

     - Tổ hợp ký tự GI, khi đứng riêng (như trong từ gì) thì “G” được coi là phụ âm đơn, “I” là nguyên âm; nhưng khi “GI” đứng trước các nguyên âm khác (như trong các từ giang, giỏ.) thì “gi” là phụ âm ghép.

     - Theo ngữ pháp tiếng Việt, Đ là phụ âm đơn; nhưng trong tốc ký vi tính, Đ là phụ âm ghép vì ta phải gõ phím hai lần để tạo ra ký tự này trên màn hình.

    Các nguyên âm gốc và các phụ âm đơn, khi soạn thảo, ta chỉ cần gõ phím một lần để tạo ra chúng; còn các nguyên âm ghép, các nguyên âm có tầng dấu và phụ âm ghép, khi soạn thảo ta phải gõ phím từ hai lần trở lên để tạo ra chúng. Do điều này, trong phương pháp tốc ký vi tính, ta tìm cách gán một ký tự có trên bàn phím (với điều kiện ký tự đó chỉ cần một lần gõ phím, không bấm phím Shift) để làm đại diện cho các nguyên âm ghép, các nguyên âm có tầng dấu và phụ âm ghép. Riêng các nguyên âm gốc, các phụ âm đơn, ta chỉ cần gõ phím một lần là chúng hiển thị trên màn hình; do vậy, chúng không cần có phím gán đại diện cho chúng. Nói cách khác: bản thân các nguyên âm gốc và phụ âm đơn là phím gán đại diện cho chính nó trong phương pháp tốc ký vi tính.

    ●Từ đơn - từ ghép:

    Từ đơn là những từ khi phát âm, ta chỉ phát ra một tiếng và tiếng đó có nghĩa (được sử dụng trong soạn thảo văn bản); còn từ ghép là những từ có hai từ đơn trở lên; khi phát âm ta phải phát ra nhiều tiếng.

    Những từ đơn phát âm ra tiếng nhưng không có nghĩa (ví dụ: các từ biễng, biệng), ta gọi là tiếng chứ không gọi là từ đơn và nó không được nhập vào từ điển tốc ký vi tính, nghĩa là ta không truy xuất được chúng. Khi cần soạn thảo các tiếng (dùng cho tên riêng, địa danh, hoặc từ địa phương) ta phải soạn thảo theo cách gõ phím từng ký tự.

    Những từ đơn tham gia trong thành phần cấu tạo từ ghép nhưng không có nghĩa, ví dụ từ cộ trong xe cộ; từ khuâng trong bâng khuâng vv... vẫn được coi là từ đơn vì chúng đã được nhập vào phần mềm tốc ký vi tính, được dùng thường xuyên trong soạn thảo văn bản.

    Trong quá trình tạo nhập mã tốc ký, chúng tôi chỉ quan tâm nhập mã tốc ký cho từ đơn chứ không tạo nhập mã tốc ký cho tiếng.

    Ghi chú:

     + Các từ tiếng Việt có nguồn gốc vay mượn từ tiếng nước ngoài đã được Việt hóa trong cách cũng được xếp loại là từ đơn hoặc từ ghép, căn cứ theo số lượng tiếng phát ra khi phát âm từ đó.

     + Các từ tiếng Việt có nguồn gốc du nhập từ tiếng nước ngoài nhưng vẫn giữ nguyên cách viết như từ gốc (không được Việt hóa trong cách phiên âm) tạm thời chưa đề cập về phương pháp soạn thảo tốc ký vi tính trong cuốn sách này. Khi soạn thảo những từ loại này, bạn phải soạn thảo theo phương pháp gõ nhập thông thường.

     + Các từ tiếng Việt (thường là du nhập từ tiếng nước ngoài) đã được Việt hóa trong cách phiên âm và có hai nguyên âm giống nhau (như các từ: quần sooc, cái soong), thì hai nguyên âm giống nhau đó được coi như là một nguyên âm.

    Cấu tạo và phân loại từ tiếng Việt:

    Cấu tạo từ:

    ♦ Từ đơn:

     - Từ đơn đầy đủ gồm: phụ âm đầu + nguyên âm + dấu giọng + phụ âm cuối.

    Ví dụ:

     - Từ làm có phụ âm đầu là l, nguyên âm a, dấu giọng (dấu huyền) và phụ âm cuối là m. Dạng thức rút gọn là l/à/m.

     - Từ ngoạn có phụ âm đầu là ng (phụ âm ghép), nguyên âm oa (nguyên âm ghép) và phụ âm cuối n. Dạng thức rút gọn ng/oạ/n.

    Từ làm có 3 mẫu tự cấu thành và là mẫu tự đơn, còn từ ngoạn có phụ âm đầu ng là phụ âm ghép, và nguyên âm ghép oa, dấu giọng là dấu nặng và phụ âm cuối là phụ âm đơn n.

     - Từ đơn không đầy đủ:

    Một từ đơn có thể không có phụ âm đầu (gọi là từ đơn thiếu đầu) hoặc không có phụ âm cuối (gọi là từ đơn thiếu đuôi); hoặc từ đơn thiếu cả phụ âm đầu lẫn phụ âm cuối (gọi là từ đơn thiếu đầu và đuôi.

    Một từ đơn không bao giờ thiếu nguyên âm.

    Ví dụ: từ ngoan nếu thiếu thành phần phụ âm đầu sẽ là từ oan; nếu thiếu phụ âm cuối sẽ là từ ngoa; nếu thiếu cả phụ âm đầu lẫn phụ âm cuối sẽ biến thành từ oa.

    ♦ Từ ghép (còn gọi là từ phức);

    Thuật ngữ từ ghép nói chung dùng để chỉ tổ hợp từ có hai từ đơn trở lên hợp thành. Khi muốn nhấn mạnh số lượng từ đơn hợp thành từ ghép, ta ghi thêm số lượng từ đơn hợp thành từ ghép. Ví dụ: du lịch, hoàng đế vv... là từ ghép hai; cơ giới hóa, hợp tác xã vv... là từ ghép ba. Các từ ghép có trên 3 từ đơn hợp thành như y tế dự phòng, hành chính sự nghiệp vv... ta có thể gọi là từ ghép bốn hoặc gọi chung là cụm từ.

    Phân loại từ ghép:

    Trong tốc ký vi tính, khi nhận dạng một từ ghép, ta quan tâm đến từ ghép đó có chứa nguyên âm ghép hay không; vì sự hiện diện của nguyên âm ghép trong từ ghép hai là dấu hiệu quan trọng trong để xác định cách gõ mã tốc ký trong quy tắc tạo nhập và truy xuất mã tốc ký của các từ ghép hai.

    Do đó, ta phân loại:

     - Từ ghép hai thông thường: là những từ ghép được cấu tạo gồm hai từ đơn và cả hai từ đơn đều không có sự hiện diện của nguyên âm ghép.

    Ví dụ: các từ: tòn ten, gọn lỏn vv... là từ ghép hai thông thường.

     - Từ ghép hai phức hợp: Là những từ ghép có cấu tạo gồm hai từ đơn và một hoặc cả hai từ đơn có sự hiện diện của nguyên âm ghép.

    Ví dụ: các từ chiến trường, xoay quanh vv... là những từ ghép hai phức hợp.

    Ghi chú: Các từ ghép hai mà có một hoặc cả hai từ đơn hợp thành chứa nguyên âm có tầng dấu như trn gian, nhân th vv... không phải là từ ghép hai phức hợp vì các từ đơn cấu thành của chúng không có sự hiện diện của nguyên âm ghép.

    Các bộ gõ tiếng Việt:

    Để soạn thảo tiếng Việt trên máy vi tính, ta phải cài đặt phần mềm bộ gõ tiếng Việt. Trước đây các bộ gõ VietWare, ABC vv... rất thông dụng. Hiện nay, đa phần người dùng cài đặt hai phần mềm bộ gõ tiếng Việt là Vietkey, Unikey. Các bộ gõ này hỗ trợ tốt cho mã và font chữ Unicod. Font Unicod cho phép ta soạn thảo văn bản tiếng Việt trực tiếp khi đang ở trong internet; ngoài ra, chúng khắc phục nhiều nhược điểm của các phần mềm trước đây. Do vậy, Unicod là bộ mã được Chính phủ Việt Nam quy định sử dụng thống nhất trong các văn bản hành chính. Tuy nhiên, do thói quen, nhiều người vẫn đang dùng bộ mã Vni for Windows với font chữ Vni; hoặc bộ mã TCVN3 với font chữ ABC.

    Bạn chỉ có thể thay đổi font chữ bằng cách chọn và đổi font chữ, nhưng chỉ đổi được các font chữ trong cùng bộ mã chứ không thể chuyển từ font chữ của bộ mã này sang font chữ của bộ mã khác. Muốn làm điều này, ta phải sử dụng chức năng chuyển mã để chuyển văn bản từ bộ mã này sang bộ mã khác của các bộ gõ. Trong đĩa CD kèm theo sách, chúng tôi có cung cấp cho bạn phần mềm tốc ký riêng dùng cho các bạn “hoài cổ”, thích sử dụng bộ mã Vni for Window với font chữ Vni; hoặc bộ mã TCVN với font chữ ABC. Tuy nhiên, để có sự thống nhất chung, chúng tôi đề nghị các bạn nào còn sử dụng các bộ mã này nên chuyển sang sử dụng bộ mã Unicod.

    Bộ gõ tiếng Việt và tốc ký vi tính.

    Soạn thảo văn bản bằng phương pháp tốc ký tuy cách tạo ra từ cần cho soạn thảo khác hẳn phương pháp soạn thảo văn bản truyền thống; nhưng nó vẫn đặt trên nền tảng của phần mềm soạn thảo văn bản của phần mềm Microsoft Word và phần mềm bộ gõ tiếng Việt. Vì vậy, người dùng đang soạn thảo văn bản bằng tốc ký vi tính có thể chuyển sang soạn thảo bình thường bằng phương pháp truyền thống và ngược lại.

    Tác động của phần mềm bộ gõ tiếng Việt có ảnh hưởng đến phương pháp tạo nhập và truy xuất mã tốc ký ở hai điểm:

    1 - Do tác động tự biến ký tự của bộ gõ tiếng Việt: Khi sử dụng kiểu gõ telex, bạn gõ phím w sẽ nhận được ký tự ư trên màn hình. Khi sử dụng kiểu gõ Vni, bạn gõ d9 trên bàn phím, sẽ nhận được ký tự đ trên màn hình.

    2 - Cũng với kiểu gõ telex, khi bạn gõ phím [ trên bàn phím sẽ nhận được ký tự ơ (là nguyên âm ơ thực sự như chúng hiển thị trên màn hình như khi ta gõ ow theo kiểu gõ telex, hoặc gõ o7 theo kiểu gõ Vni); tương tự, khi bạn gõ phím ], kiểu gõ telex, sẽ hiển thị nguyên âm ư trên màn hình.

    3 - Bộ gõ tiếng Việt hỗ trợ người dùng để tạo ra dấu giọng cho các nguyên âm. Dùng kiểu gõ Vni, khi gõ một nguyên âm, tiếp đến gõ một trong các phím 1, 2, 3, 4, 5 ta sẽ tạo được các nguyên âm có dấu giọng tương ứng là sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng. Tương tự, với kiểu gõ telex, sau khi gõ một nguyên âm, tiếp đến một trong các phím s, f, r, x, j ta cũng có được các nguyên âm có dấu giọng tương ứng như trên.

    Về lý thuyết, ta có thể không sử dụng bộ gõ tiếng Việt trong soạn thảo văn bản bằng tốc ký vi tính nếu ta tạo nhập tất cả các từ đơn, tiếng, từ ghép thông thường và từ ghép phức hợp trong tiếng Việt. Tuy nhiên, điều này là không tưởng vì ngôn ngữ tiếng Việt rất phong phú; các từ ghép phát sinh hàng ngày nên không thể cập nhật hết được. Ngay cả từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học cũng phải tái bản định kỳ nhưng cũng không theo kịp sự phát triển của ngôn ngữ tiếng Việt. Do đó, ta phải “chung sống hòa bình” với bộ gõ tiếng Việt. Bạn dùng kiểu gõ nào (Vni, telex) thì sử dụng mã tốc ký theo kiểu gõ đó.

    Do tác động của bộ gõ tiếng Việt, mã tốc ký biến đổi theo kiểu gõ của người dùng, đặc biệt, đối với kiểu gõ telex, có nhiều mã tốc ký rất “quái chiêu”, nhưng bạn cũng dễ dàng hiểu được nguyên nhân của sự biến đổi mã tốc ký giữa kiểu gõ Vni và kiểu gõ telex khi phân tích tác động của bộ gõ tiếng Việt đến các mã tốc ký. Dưới đây là một vài ví dụ:


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Văn Danh @ 22:47 17/11/2011
    Số lượt xem: 2128
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Về mặt ngữ âm, thầy Hồng Ân có ý kiến gì không về bài viết này của ông Võ Đình Tiến trong cuốn sách hướng dẫn tốc kí trên máy vi tính của tác giả ?
    Avatar

    CHÀO THẦY DANH!

    CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN KHÁ  CÔNG PHU, TỈ MỈ RẤT TIỆN LỞI CHO VIỆC SOẠN THẢO VĂN BẢN TRÊN MÁY TÍNH. TUY NHIÊN, XÉT LẠI, HA THẤY CÓ NHỮNG KHÓ KHĂN SAU:

    MỘT LÀ. ĐỂ SỬ DỤNG ĐƯỢC KÍ TỰ VIẾT TẮT, NGƯỜI VIẾT PHẢI "CHỊU KHÓ" ĐIỀU CHỈNH LẠI CÁCH GÕ BÀN PHÍM (THAY ĐỔI THÓI QUEN GÕ KÍ TỰ ĐẦY ĐỦ NHƯ TRƯỚC ĐẾN GIỜ). 

    HAI LÀ, ĐỐI VỚI CÁC ĐỐI TƯỢNG LÀ HỌC SINH, VIỆC "VIẾT" CHỮ TẮT THẾ NÀY SẼ DẦN HÌNH THÀNH THÓI QUEN VIẾT TẮT KHI LÀM BÀI VIẾT TRÊN GIẤY. ĐÂY  LÀ MỘT LỖI  PHỔ BIẾN CẦN KHẮC PHỤC TRONG NHÀ TRƯỜNG HIỆN NAY.

    BA LÀ, VIỆC VIẾT TẮT NÀY KHI TRỞ THÀNH LỐI "GÕ" PHỔ BIẾN, "TẮT HÓA", E RẰNG NÓ SẼ LÀM "BIẾN DẠNG" CHỮ VIỆT CỦA CHÚNG TA?

    THEO QUAN ĐIỂM CÁ NHÂN, HA THẤY CHƯƠNG TRÌNH NÀY TIỆN LỢI VÀ CÓ THỂ NHÂN RỘNG SỬ DỤNG KHI DÙNG KÍ TỰ VIẾT TẮT CHO  MỘT SỐ TỪ NGỮ CÓ THỂ VIẾT SAI CHÍNH TẢ ĐỂ GIÚP NGƯỜI VIẾT KHẮC PHỤC.

    VÀI ĐIỀU BĂN KHOĂN XIN CHIA SẺ CÙNG THẦY.

    CHÚC THẦY LUÔN VUI KHỎE!

    Avatar

    Chào thầy Hồng Ân.

    Tôi nghĩ rằng, đầu tiên, công trình này phù hợp cho những người làm việc mà CÓ NHU CẦU NHẬP LIỆU NHIỀU VÀ NHANH để đáp ứng kịp thời yêu cầu của công việc trên máy vi tính.

    Thứ đến, những người này chắc chắn phải hiểu và biết các dạng chữ Việt, biết phân biệt khi nào cần gõ tắt chữ Việt (mà chương trình vẫn cho ra văn bản bình thường) trong máy vi tính, khi nào cần viết tắt chữ Việt (một dạng tốc kí chữ viết) trên giấy (ghi nhanh lời thoại đang nói chuyện hay ghi về một diễn biến nào đó đang chứng kiến). Và khi nào cần viết bình thường (ngồi trên máy vi tính không có chương trình gõ tắt, khi viết trên giấy các loại văn bản nghiêm túc)...

    Theo tác giả Võ Đình Tiến, người dùng KHÔNG PHẢI THAY ĐỔI THÓI QUEN GÕ KÍ TỰ ĐẦY ĐỦ, mà chỉ cần biết phối hợp: lúc nào cần gõ đầy đủ, lúc nào cần gõ tắt.

    Đối với đối tượng học sinh nói riêng và mọi người khác nói riêng, tôi chưa rõ hiệu quả và ảnh hưởng của việc viết tốc kí vi tính chữ Việt như thế nào. Tuy nhiên chắc thầy cũng thấy: không có chương trình này thì giới trẻ Việt Nam khi lên mạng và Chat với nhau, họ sử dụng một "ngôn ngữ kí tự Chat" mà nhiều người nhìn vào cảm thấy đau đầu nhức mắt (ngay cả 2 con gái lớn của tôi cũng dùng ngôn ngữ Chat này với bạn bè chúng), và họ tỏ ra thích thú, tự hào với loại chữ như vậy. Ảnh hưởng cũng đã có, ngoài việt Chat, họ mang thứ chữ đó vào cả các blog riêng, và đôi khi, cảc các bài viết khi thi vào Đại Học ! và cho đến nay hầu như chúng ta (cùng các nhà xã hội học, ngôn ngữ học...) chưa thể ngăn cản hết hay điều hướng thế nào cho giới trẻ ! vậy thì khi dùng chương trình tốc kí này, có thể điều lo lắng của thầy cũng sẽ xảy ra ở một mức độ nào đó. Tuy nhiên ít ra vẫn có cái lợi là nếu họ kết hợp việc gõ tắt đó với chương trình tốc kí vi tính thì chữ Việt cho ra vẫn đúng với chữ truyền thống của chúng ta.

    Vậy theo tôi, bước đầu tiên là hãy xem xét và sử chương trình dưới góc độ của một người đã vững vàng trong tiếng Việt và có nhu cầu gõ nhiều văn bản. Sau đó mới nghĩ đến việc nhân rộng đến những giới khác trong xã hội.

    Bộ tốc kí của ông Võ Đình Tiến (và của một vài tác giả khác mà tôi biết), có cái hay là biết lợi dụng chức năng AutoText của MS Word (Một chương trình nhập văn bản phổ biến ở nước ta. Tuy nhiên lại còn hạn chế ở chỗ việc gõ Tốc kí chỉ sữ dụng được trong bộ Officces (MS Word, MS Excel, PowerPoint...) mà không thể chạy trực tiếp trong các chương trình khác (như trình duyệt web, các trình Chat qua mạng lưới internet như Yahoo Messenger, MSN Messenger, Gmail Messenger...). Nhưng cũng đã hữu dụng cho ai chuyên làm việc nhiều trong Word. 

     
    Gửi ý kiến