Vì đâu văn nhạt nhòa?
|
Cùng đỗ đại học với số điểm như nhau thế nhưng có những học sinh thấy nhẹ nhàng, thư thái, nghĩ đến môn Văn mà hứng khởi vì kết quả các em có được do “phát tiết tinh hoa”. Ngược lại, nhiều học sinh mệt mỏi, nghĩ đến môn học này mà kinh sợ và quyết “đoạn tuyệt” bởi có được số điểm ấy là một quá trình nhồi nhét, học gạo từng câu, từng từ. Hai học sinh trên được dạy văn theo hai cách khác nhau. Một em được người thầy truyền cảm hứng nên yêu thích môn văn. Qua từng bài giảng của thầy và sự tự nghiên cứu, chiêm nghiệm của các em mà chất văn đã thấm đẫm vào tâm hồn. Trong khi đó, học sinh kia miệt mài ghi chép, luyện khắp các lò và học theo văn của thầy cô. Các em mệt mỏi vì phải dốc sức để học thuộc một cách cơ cực như vác đá, cõng củi. Sự thờ ơ, “xa lánh” môn Văn không chỉ bởi cái nhìn thiên lệch của xã hội khi so sánh các môn tự nhiên và các môn xã hội mà theo nhiều giáo viên tâm huyết, cách dạy của không ít giáo viên chưa hiệu quả. Những “chiếc máy” dạy văn Cô giáo Dương Thị Mai Hương, giáo viên trường THPT Phan Huy Chú nhận xét: “Phương pháp đọc - chép hiện vẫn được nhiều giáo viên sử dụng bởi họ cho rằng làm thế vừa không sợ sai kiến thức cơ bản, lại không tốn sức. Ngay cả một số giáo viên giảng dạy bằng giáo án điện tử cũng chỉ trình chiếu để học sinh có thể ghi chép đầy đủ. Vì thế, họ đã chuyển từ đọc - chép sang nhìn – chép. Dạy theo phương pháp này chỉ cần soạn giáo án một lần, đọc đi đọc lại cho thuộc, thậm chí cứ cầm, nhìn giáo án mà đọc. Điều này làm thui chột tài năng của người dạy. Lớp nào cũng thế, năm nào cũng vậy rồi dần trở thành một “chiếc máy” dạy Văn”. Nhìn từ góc độ của của học sinh, cô giáo Vũ Đỗ Quyên – Trường THPT Quang Trung cho biết: “Soạn bài thì các em mua sách “Để học tốt môn Văn” về chép. Không khó để tìm các bài văn mẫu từ vô số các sách tham khảo được bày bán trên thị trường. Cá biệt có em chép luôn cả chục bài mà không cần đọc SGK, không đọc tác phẩm. Đi thi thì chuẩn bị phao hoặc cố gắng “chém gió” để thoát điểm liệt. Tâm lý viết bài cho đủ độ dài mà không quan tâm đến nội dung bài viết làm giảm chất lượng cảm thụ văn học. Lối dạy đọc chép không chỉ kìm hãm sự sáng tạo của học sinh mà khiến học sinh chán ghét môn học”. Văn học cần cảm xúc Với kiểu học này, học trò có thể biết trước giáo viên sẽ nói gì trong tiết học sắp tới bằng cách mượn lại vở của các học sinh khóa trước hay tìm và chép lại bài soạn văn của giáo viên. Nguy hiểm hơn, dạy học theo kiểu đọc chép, thi cũng ra đề theo kiểu học thuộc. Học sinh khi học chép được điều gì thì lúc đi thi, lại chép y chang những điều ấy vào bài làm văn, hiểu bài một cách máy móc, viết văn không thể hiện được cái riêng, hoặc không dám thể hiện cáiriêng ấy. Trăn trở về vấn đề này, cô giáo Kim Anh – trường THPT Phan Huy Chú bày tỏ: “Một trong những nghịch lý đang diễn ra trong thực tế là nhờ một bài văn mẫu làm sẵn hoặc dàn bài khai thác, học sinh có thể đạt được điểm văn cao nhưng chất văn vẫn không ngấm vào trong tình cảm và tâm hồn các em. Thầy cần thả hồn bình văn thay vì ốp bài văn mẫu bắt học trò ôm từng ý, từng lời, thầy khuân chữ đến chia bày, trò nhặt về nặng nhọc”. Văn gắn với đời Thảo luận trong hội thảo “Dạy văn theo xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá” được tổ chức tại trường THPT Phan Huy Chú, các giáo viên đã đưa ra nhiều giải pháp để bồi đắp tình yêu văn học và tính nhân văn cho học trò. Trong đó, nhiều thầy cô nhấn mạnh đến việc đưa môn văn đến gần với cuộc sống và thiết thực trong thực tiễn. Cô giáo Kim Anh cho rằng, đề văn mang tính thời sự sẽ giúp học sinh thấy giá trị tích cực của việc học văn. Đề văn nghị luận xã hội được đưa ra trong những năm gần đây từ kỳ thi HSG, thi tốt nghiệp THPT đến thi tuyển sinh đại học đều mang tính thời sự và theo hướng mở. Khác với nghị luận văn học thường hạn chế ở tác phẩm đã hoàn thành từ lâu và chỉ còn trông chờ vào cách nhìn mới. Ở các câu nghị luận xã hội có nhiều “đất” để ra đề linh hoạt, gắn với đời sống. Tuy nhiên, các giáo viên cần phải suy xét, tránh lạm dụng cách ra đề mở. Ví dụ như một giáo viên ra đề văn cho học sinh lớp 10 là “Vì sao tôi sống?”. Trò không biết và chạy về hỏi cha mẹ “con nghĩ mãi vẫn không biết vì sao con sống nữa!”. Người ra đề phải biết làm sao chỉ từ một vấn đề mà liên hệ và mở tầm nhìn đến những vấn đề khác. Nếu không hữu dụng tức thì cho việc làm văn thì cũng là bài học sống để dạy người. Khi đề văn bàn đến chuyện đời là lúc văn đồng hành cùng người học. Giá trị của việc học văn trở nên rất cụ thể, rất sát sườn. Không thể nào bài thi văn và cuộc sống lại “gió theo lối gió, mây đường mây”. Học trò làm bài văn mà không biết mình học bài đó để làm gì ngoài mục đích lấy điểm số, vượt kỳ thi. Việc dạy văn là đem đến cái đẹp như ngọc ẩn trong tâm hồn, có giá trị tự soi sáng cho người học. Để gắn văn với đời thì đòi hỏi mỗi thầy cô giáo cần phải hoàn thiện bản thân mình. Bản thân cô giáo Kim Anh đã tổ chức nhiều buổi học thực tế. Mỗi học kỳ cô tổ chức ít nhất 2 lần đưa học trò đi thăm bảo tàng văn học, nhà lưu niệm, thăm mộ các nhờ thơ, nhà văn hay dự các ngày thơ Việt Nam, các sự kiện văn học… cô bày tỏ: Chuyện văn là chuyện đời, nếu thầy cô cứ nói mãi những gì mà ai cũng biết, hoặc dễ tìm trên mạng internet thì thầy cô đã tự loại mình ra khỏi vị trí người thầy đúng nghĩa nhất. Nếu phân tích một nhân vật mà cứ để nhân vật xa lắc xa lơ với trò thì cách cảm tác phẩm, cách nhớ và suy ngẫm của người học rất hẹp. Kết nối với hôm nay sẽ ra được những ý kiến hay và nuôi sống tác phẩm bằng cảm xúc không cũ. Cần đưa đời sống vào văn đúng như bản chất văn học. Người thầy cần thức thời và cập nhật thông tin với những nhìn nhận sắc sảo. Người học cần thấy vui niềm vui được hiểu biết và có thể vận dụng trong đời sống. Như vậy là nối văn với đời. Sau đó ta mới bàn đến cảm xúc văn chương, cảm xúc thẩm mỹ.
Trò thích nghe thầy thả hồn bình văn Cô giáo Tạ Việt Anh – Trường THPT Kim Liên cũng nhận định: “Dạy văn dù lãng mạn nhưng vẫn phải thiết thực bám sát các vấn đề thời sự, mang ý nghĩa giáo dục phù hợp với thời đại để người học thấy giá trị tích cực của việc học Văn. Đổi mới kiểm tra – đánh giá cần thực hiện ngay ở công tác ra đề. Đề văn tự luận sử dụng đề mở để phát huy tối đa khả năng tư duy liên tưởng và chính kiến cá nhân của học sinh”. Bên cạnh yếu tố gắn với thực tiễn thì các thầy cô giáo cần phải có những biện pháp gợi mở suy nghĩ và sự sáng tạo của học sinh. Cô giáo Dương Thị Mai Hương cho rằng, sở dĩ nhiều học sinh thế hệ trước còn nhớ như in những lời dạy văn của một số cô thầy khi học cấp 2, 3 hay đại học, chính là nhờ những giây phút được nghe cách thầy bình văn. Những giây phút đó, trí tưởng tượng của chúng ta bay bổng, sống với nhân vật, hoàn cảnh. Giáo viên có sự đầu tư, làm việc và nghiên cứu bài giảng và tăng sự tương tác, trao đổi với học sinh trên lớp, hướng dẫn các em phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh tri thức. Cho các em học nhóm, nghiên cứu, thảo luận, diễn thuyết trước đám đông. Dạy văn có lẽ khó và khổ nhất trong các môn học bởi người thầy phải biết lôi cuốn, truyền cảm xúc chạm vào trái tim học trò. Họ phải chấm những bài văn rất dài mà riêng việc đọc và dịch chữ viết của các em cũng đã toát mồ hôi. Thế nhưng, nếu thầy giỏi và tâm huyết thì thành quả của môn văn vô cùng to lớn, đó là lớp người có nhân cách cao đẹp. Đúng như nhà thơ Xuân Diệu vẫn nói: “Mỗi áng văn, lời thơ là một con cá lội, con bướm bay, con chim hót. Việc nghiên cứu giảng dạy thơ văn là phải đưa được vào trái tim người đọc cái kỳ diệu của chim hót, bướm bay, cá lội, chứ không phải là làm cho bướm ép dẹp, chim nhồi rơm và cá chết khô”. Tô An
TS Chu Văn Sơn – Giảng viên khoa Ngữ Văn, ĐH Sư phạm Hà Nội: DẠY VĂN LÀ DẠY CHẤT NHÂN VĂN Chúng ta đang phải đối mặt với một nghịch lý. Giáo viên dạy Văn được tiếp xúc với rất nhiều nguồn tri thức. Chưa bao giờ họ được trang bị nhiều phương pháp dạy học đến thế. Kèm theo đó là vô số phương tiện dạy học hiện đại. Thế nhưng, có lẽ chưa bao giờ học trò của chúng ta lại chán học văn như hiện nay. Nhiều em tâm sự học văn có cảm giác như bị tra tấn. Ở Hà Nội còn khả quan, ở nhiều tỉnh khác, đặc biệt vùng xâu, vùng xa, tình trạng học văn còn đáng lo ngại hơn nhiều. Muốn thay đổi điều này phải tìm ra nguyên nhân và giải quyết những vấn đề ấy. Theo tôi, nguyên nhân khách quan ở đây chính là những yếu tố của thời đại mà chúng ta đang sống. Khoa học công nghệ được ưu tiên hơn khoa học nhân văn. Ngoài ra phải kể đến sự lấn át của công nghệ giải trí và văn hóa nghe nhìn khiến văn hóa đọc vốn là nền tảng phát triển tình yêu văn học bị suy giảm. Cuối cùng chính là xu hướng thực dụng trong lối sống của nhiều người. Chúng ta dường như cũng có sự lệch lạc trong triết lý bộ môn. Bắt đầu từ cải cách giáo dục những năm 1990, chúng ta dạy môn Ngữ văn như bộ môn nghệ thuật mà quên rằng, dạy văn là dạy chất nhân văn. Thứ hai, chương trình của chúng ta hiện nay đã được cải tiến nhưng vẫn cần thay đổi nhiều. Riêng về khâu chọn tác phẩm phải có 4 tiêu chí: hay, tiêu biểu, toàn diện, công bằng. Nếu chương trình lành mạnh phải đề cao tiêu chí hay. Nhưng thực tế khi lựa chọn chúng ta lại thỏa hiệp với tiêu chí toàn diện, tiêu chí công bằng. Ví dụ, trước đây những tác phẩm văn nghị luận có mặt ít nhưng hiện nay khá nhiều. Khảo sát trên toàn quốc cho thấy, việc đưa các tác phẩm nghị luận làm nặng nề chương trình, làm học trò chán nản. Một ví dụ cụ thể là trước đây chúng ta chọn dạy tác giả Tản Đà với tác phẩm “Tống biệt” và “Thề non nước”. Nhưng hiện nay, chúng ta dạy “Hầu trời” vì chọn theo tiêu chí tiêu biểu cho hiện tượng giao thời của Tản Đà, một tác phẩm nên được đưa vào chương trình đại học hơn là chương trình phổ thông. Thực tế, học sinh của chúng ta không chán văn nói chung mà chỉ chán văn trong nhà trường. Học sinh vẫn thích đọc truyện hay các các tác phẩm văn trên mạng. Học văn phải bồi đắp, đánh thức giá trị nhân văn trong học trò. Hành trang cho học sinh học văn là kiến thức, kỹ năng, năng lực. Năng lực trong môn văn có sự khác biệt với các môn khác là không chỉ ở sự thông minh ở trí tuệ mà xét cho cùng là năng lực sống và năng lực sáng tạo. Nỗ lực của Viện khoa học giáo dục chủ yếu hướng về đánh giá kiến thức kỹ năng mà chưa kiểm tra năng lực người học văn. Ngoài ra, tình trạng học sinh không “cảm” văn và yêu thích văn cũng do việc dạy gạo, học gạo, hướng vào mục đích thi. Đây là cách ngắn nhất để làm xơ cứng môn văn. Học văn khác với tất cả môn học khác. Học sinh không chỉ nhăm nhăm vào học kiến thức mà quan trọng là phải được sống và đắm chìm trong văn. Nhưng việc sống trong văn ngày càng nghèo vì đặt nặng mục tiêu thi đỗ. Học sinh chán học văn cũng còn lý do nữa là tâm huyết của giáo viên dạy văn, lửa nghề vẫn chưa mạnh thậm chí chỉ le lói. Thực tế, sự truyền cảm là nhân tố làm nên sự thành công cho giờ dạy văn. Sự truyền cảm không chỉ ở giọng nói lên bổng xuống trầm. Sự truyền cảm ở đây có gốc là sự tâm đắc của giáo viên với mỗi tác phẩm. Điều này không thể có được nếu giáo viên chỉ tham khảo hay nghiên cứu nọ kia mà bản thân phải thẩm thấu với giá trị của tác phẩm. Dạy văn để cho học trò sống với văn chương chứ không phải để “giải phẫu” văn chương. Một trong những khâu để đo đếm lửa nhiệt tình của giáo viên là công tác chấm bài. Các thầy cô cần cẩn thận đọc bài và sửa cho học sinh từng lỗi nhỏ. Hùng Sơn (ghi) Theo Tạp chí Giáo dục Thủ đô số 36, tháng 12/2012 |
Lữ Hồng Ân @ 18:11 06/01/2013
Số lượt xem: 2160
- Bàn đổi mới chương trình, SGK phổ thông (11/12/12)
- Giáo viên chán nghề: 'Đừng đặt áp lực lên vai chúng tôi' (11/11/12)
- DẠY HỌC - NGHỀ CAO QUÍ (09/11/12)
- Nhớ ơn thầy cô nhân ngày 20 -11 (08/11/12)
- Trắng tay sau 30 năm đứng lớp (07/11/12)



đọc bài này của thầy, thấy suy tư tràn ngập lòng người gv dạy văn
ĐT THĂM THẦY
Nhân dịp năm mới, kính chúc các thầy giáo/cô giáo Sức khỏe - An khang, Thành công trong cuộc sống!
Ban quản trị/Ban biên tập Website Trường THCS Số 1 Nam Lý ( http://thcsso1namly.edu.vn ) trân trọng giới thiệu Trung tâm Học liệu điện tử của trường tại địa chỉ http://thcs-so1namly-quangbinh.violet.vn . Hân hạnh chào đón sự ghé thăm của quí thầy, cô!
Trân trọng cảm ơn!
Website được quản lý và biên tập bởi Hoàng Công Hậu
Mail: conghau@thcsso1namly.edu.vn
hoangconghau_thcsdh@quangbinh.edu.vn
HỒNG ÂN VUI CHÀO VÀ CẢM ƠN QUÝ THẦY CÔ ĐẾN CHIA SẺ TRONG THỜI GIAN QUA.
KÍNH CHÚC TẤT CẢ MỘT NĂM MỚI AN KHANG - THỊNH VƯỢNG!